Hình xưa VNCH
Tin tức đó đây
Sách xưa thời VNCH
Hình vui Ảnh đẹp
Lưu trữ Multi.
Loading...

13 thg 8, 2012

Vài hình ảnh về "Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955 "



17thParalell
Vĩ tuyến  17
hiep_dinh_geneve_2

dicu1954_2

vn54_03


Photobucket



Có rất nhiều trại định cư đã thành công, đã trở thành nơi ăn chốn ở vĩnh viễn cho người di cư 


Nguồn: National Geographic, số tháng Sáu, 1955 




Photobucket



Dốc Mơ: cứ mỗi ngày có thêm 100 căn nhà mới được dựng lên.


Nguồn: National Geographic, số tháng Sáu, 1955 (trang 872) 


Photobucket



Dù chưa lo kịp vấn đề cơm áo, họ đã nghĩ ngay đến việc phải có trường học cho con em họ.


Nguồn: National Geographic, số tháng Sáu, 1955 




Cuộc di cư 1954-1955 là cơ hội để con người có cơ may làm người: Rạch Bắp


Nguồn: National Geographic Số tháng 6, 1955




Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam. (HÌNH ẢNH: Trung Tâm Quân Sử Hải Quân Hoa Kỳ).




Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm). 

Cảnh chợ trời tại Hà Nội trước khi di cư vào Nam
'Tàu há mồm' LST đón người di cư từ Bắc vào Nam

Nhìn lại cuộc di cư đẫm máu 1954http://vietcatholic.com/News/Html/19469.htm

++++++++++++++++++++++++++++++

Nhìn lại cuộc di cư đẫm máu 1954

Ngày 21.7.2004 tới đây là đúng 50 năm kể từ ngày đất nước bị Pháp và Việt Minh thỏa thuận chia đôi, từ đó nhiều chuyện đau thương đã xẩy ra trên quê hương. Những người đã phải bỏ quê hương miền Bắc ra đi năm 1954 đã quyết định tổ chức ngày họp mặt tại Orange County để ôn lại những kỷ niệm xưa và nghiền ngẩm bài học lịch sử.

Cuộc tháo chạy khỏi vùng Cộng Sản năm 1954 vẫn còn đờ sờ trước mắt nhiều người, nó bi thảm không khác gì cuộc tháo chạy 1975, thế nhưng một số người mang nặng mặc cảm tội lỗi đã làm công cụ cho Cộng Sản trong suốt cuộc chiến Việt Nam, nay đang cố gắng dùng phịa sử để bóp méo biến cố lịch sử này, mô tả cuộc chiến chống Cộng của nhân loại và của người Việt như là một “cuộc thánh chiến chống cộng” để bôi bác. Những gì Cộng Sản đã phịa ra năm 1954 và sau đó để giải thích cuộc di cư vĩ đại ra khỏi vùng Cộng Sản chiếm đóng vào 1954, lại được nhóm này đưa ra nhai lại!

NHỮNG GIỜ QUYẾT ĐỊNH

Năm 1954, Pháp bắt đầu gặp nhiều khó khăn về cuộc chiến Đông Dương nên đã cùng Việt Minh mở hội nghị tại Genève để giải quyết vấn đề này. Hội nghị khai mạc ngày 26.4.1954 và thật sự bàn về Đông Dương kể từ ngày 8.5.1954.

Việt Minh vốn chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, nên khi cuộc thương thuyết đang diễn ra, họ đã dùng toàn lực dứt điểm Điện Biên Phủ để tạo ưu thế trên bàn hội nghị. Ngày 7.5.1954 Điện Biên Phủ thất thủ. Thua trận này, Pháp mất khoảng 5% lực lượng ở Đông Dương.

Lúc đó lực lượng của Pháp tại Đông Dương còn khoảng 440.000 quân, trong đó có 124.600 quân là người Âu Châu và người Phi Châu. Riêng lực lượng quân đội quốc gia Việt Nam tuy đã có quân số lên đến 249.517 người, nhưng khả năng chiến đấu còn rất yếu. Điều này cũng dể hiểu, vì quân đội quốc gia Việt Nam còn quá non trẻ.

Ngày 11.5.1950, theo đề nghị của Thủ Tướng Pháp, Quốc Hội Pháp chấp thuận cho chính phủ Việt Nam được thành lập quân đội. Ngay sau đó, Thủ Tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập quân đội quốc gia Việt Nam. Đến tháng 2 năm 1952, quân đội quốc gia Việt Nam đã có khoảng 120.000 quân cbính quy và 50.000 phụ lực quân. Kể từ ngày 1.7.1952, Việt Nam được chia thành 4 Quân Khu: Đệ Nhất Quân Khu là Nam Việt, Đệ Nhị Quân Khu là Trung Việt, Đệ Tam Quân Khu là Bắc Việt và Cao Nguyên Bắc Việt, và Đệ Tứ Quân Khu là Cao Nguyên Trung Việt. Đến đầu tháng 6 năm 1954, trước khi ký Hiệp Định Genève, quân đội quốc gia có 205.613 chính quy và 43.904 phụ lực quân, tổng cộng là 249.517 quân, chia ra như sau:


  • Đ1QK: 63.550 chính quy và 29.282 phụ lực quân;
  • Đ2QK: 30.023 chính quy và 1.854 phụ lực quân;
  • Đ3QK: 73.367 chính quy và 6.709 phụ lực quân;
  • Đ4QK: 38.673 chính quy và 6.059 phụ lực quân;
Với quân số như trên, người Pháp còn có thể tiếp tục cuộc chiến không có gì khó khăn, nhưng dư luận Pháp không còn muốn quân đội Pháp ở lại Đông Dương nữa vì quá tốn kém. Tại hội nghị Genève, Pháp đề nghi lấy vĩ tuyến 18 (ngang sông Gianh) chia đôi lãnh thổ Việt Nam, trong khi đó Việt Minh đòi lấy vĩ tuyến 16 (ngang Đà Nẵng). Mọi người tiên đoán hai bên rồi sẽ thỏa thuận lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) để phân chia. Mọi sự phản đối của chính phủ quốc gia Việt Nam đều không được Pháp quan tâm.

ĐỐI PHÓ VỚI GIỜ PHÚT ĐEN TỐI

Trong cuốn hồi ký Con Rồng An Nam, Quốc Trưởng Bảo Đại cho biết khi thấy tình thế nguy ngập, ông nghĩ rằng chỉ có một người duy nhất dám đương đầu với Pháp, đó là ông Ngô Đình Diệm. Ông đã mời ông Diệm đến và thuyết phục ông nhận chức Thủ Tướng. Không hề có áp lực nào của Hồng Y Spellman hay Vatican như bọn viết phịa sử “cuộc thánh chiến chống Cộng” thường rêu rao. Chính phủ Pháp biết chuyện đó, nhưng nghĩ rằng ông Diệm là người ngang bướng, không thể thích ứng với tình thế mới được. Chống chọi giỏi lắm ông cũng chỉ làm Thủ Tướng được 6 tháng là cùng. Sau đó, mọi sự sẽ diễn ra như Pháp đã dự tính. Theo Đại Tá Edward G. Lansdall, lúc đó Hoa Kỳ đã chuẩn bị một con gà khác để thay thế, đó là Bác sĩ Phan Huy Quát, còn Pháp muốn tái xử dụng cựu Thủ Tướng Trần Văn Hữu. Nhưng mọi sự đã không xẩy ra như người Pháp và người Mỹ đã tính.

Ngày 16.6.1954, Quốc Trưởng Bảo Đại ký Sắc Lệnh số SL 38/QT cử ông Diệm làm Thủ Tướng thay thế ông Bửu Lộc với toàn quyền quân sự và dân sự. Ngày 25.6.1954 ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh.

Ngày 26.6.1954, Pháp mở cuộc hành quân Auvergne, triệt thoái khỏi Phát Diệm, Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình và Nam Định về tập trung xung quanh Hà Nội và Hải Phòng để tránh những thiệt hại trước khi đình chiến. Dân chúng miền Bắc rất hoang mang. Ngày 30.6.1954 Ông Diệm ra Hà Nội quan sát tình hình và được đón tiếp rất long trọng. Người ta hy vọng ông có thể giúp làm cho tình hình sáng sủa hơn.

Thủ Hiến Nguyễn Hữu Trí vận động xin vũ khí để đánh Việt Minh và bảo vệ vùng châu thổ Bắc Việt nhưng Pháp không chấp nhận. Thật ra, ông Nguyễn Hữu Trí, một lãnh tụ Đại Việt, chỉ có trong tay Đoàn Quân Thứ gồm một số cán bộ công dân vụ, không quen chiến đấu, nên dù có được trang bị võ khí cũng không thể đương đầu với Việt Minh.

Ngày 5.7.1954 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ. Ngày 8.7.1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm triệu tập Hội Đồng Nội Các và quyết định thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt và cử Bác Sĩ Hoàng Cơ Bình làm Thủ Hiến Bắc Việt thay ông Nguyễn Hữu Trí từ chức, kiêm luôn Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Ủy Ban này có ông Trần Trung Dung làm Ủy Viên Dân Sự và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vận làm Ủy Viên Quân Sự. Ngày 9.7.1954, quyết định này được hợp thức hóa bằng Dụ số 11. Theo Dụ này, Ủy Ban được dành quyền thay hai Tổng Trưởng Quốc Phòng và Tổng Trưởng Nội Vụ để giải quyết các vấn đề hành chánh, chính trị và quân sự tại miền Bắc. Ngày 12.7.1954 Ủy Ban bắt đầu hoạt động.

Ngày 16.7.1954, chính phủ quốc gia Việt Nam đã ra thông cáo tuyên bố 3 điểm: (1) Hiệp Định Genève không có giá trị đối vối chính phủ và nhân dân Việt Nam. (2) Thống nhất lãnh thổ trong hòa bình và tự do, và (3) Cương quyết bảo vệ quyền thiêng liêng của Dân Tộc về nền Thống Nhất lãnh thổ, Độc Lập quốc gia và Tự Do của con người.

Chính phủ quốc gia Việt Nam chấp nhận tổng tuyển cử với 4 điều kiện: Giải tán quân đội Việt Cộng, giải tán các tổ chức độc tài mệnh danh là “tổ chức nhân dân”, cho dân chúng có thời gian để nhận định và lựa chọn chế độ, và cuộc bầu cử phải do Liên Hiệp Quốc giám sát.

Ngày 19.7.1954, Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ tuyên bố tại Genève rằng chính phủ quốc gia Việt Nam không chấp nhận chia cắt Việt Nam và yêu cầu đặt Việt Nam dưới quyền kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Những cuộc biểu tình chống chia đôi đất nước đã diễn ra nhiều nơi. Tướng Ely của Pháp tuyên bố sẽ xử dụng mọi biện pháp để ngăn chận các cuộc biểu tình chống Pháp và nếu cần sẽ cho lệnh bắt ông Diệm.

Ngày 21.7.1954, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Pháp và Việt Minh, gồm có 47 điều khoản và một phụ lục. Sau đây là những điểm chính:

  • 1.- Định một giới tuyến quân sự từ cửa sông Bến Hải, theo giòng sông đến làng Bồ Hồ Su và biên giới Lào – Việt.
  • 2.- Lập một khu phi quân sự 5 cây số bề rộng bên này và bên kia giới tuyến để làm “khu đệm”.
  • 3.- Thời hạn để hai bên rút quân là 300 ngày, kể từ ngày Hiệp Định có hiệu lực.
  • 4.- Việc ngưng bắn được ấn định như sau: 8 giờ ngày 27.7.1954 tại Bắc Việt, 8 giờ ngày 1.8.1954 tại Trung Việt và 8 giờ ngày 11.8.1954 tại Nam Việt.
  • 5.- Trong thời hạn 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu này sang khu bên kia.
  • 6.- Ủy Hội Quốc Tế sẽ giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp Định.
Một Bản Tuyên Ngôn Chung đính theo Hiệp Định có nói rằng một cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956 dưới sự kiểm soát quốc tế.

Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ đưa ra một bản tuyên bố chống lại hiệp ước này vì cho rằng hiệp ước đã được ký kết bất chấp các nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam. Chính Phủ Việt Nam dành toàn quyền tự do hành động để bảo vệ quyền của dân tộc Việt Nam được độc lập và tự do.

Ngày 22.7.1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố cực lực chống việc chia đôi đất nước và ra lệnh treo cờ rủ để tang.

Hai Ủy Viên của Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt là ông Trần Trung Dung và Tướng Nguyễn Văn Vận được triệu hồi vào Sài Gòn để trình bày về tình hình. Sau khi họp bàn, chính phủ thấy rằng sau khi quân Pháp rút, Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt sẽ không thể đối đầu với Việt Minh được, nên ngày 6.8.1954 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm quyết định hủy bỏ Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt và ký Sắc Lệnh số SL 61/NV cử Luật sư Lê Quang Luật, Bộ Trưởng Thông Tin, làm Đại Biểu Chính Phủ “phụ trách công việc ở Bắc Việt, nhất là việc tản cư người tỵ nạn.”

CUỘC DI CƯ VĨ ĐẠI

Điều 14, đoạn b, của Hiệp Định Genève quy định:

“Trong thời gian kể từ khi hiệp định này bắt đầu có hiệu lực đến ngày hoàn thành việc chuyển quân, nếu có những thường dân ở một khu thuộc quyền kiểm soát của bên này mà muốn sang ở vùng giao cho bên kia, thì nhà chức trách của khu trên phải cho phép và giúp đỡ sự di chuyển ấy.”

Trong Lời Tuyên Bố Cuối Cùng ngày 21.7.1954, ở đoạn 8 có nói:

“Phải triệt để thi hành những điều khoản trong hiệp định đình chỉ chiến sự nhằm mục đích bảo vệ tính mạng và tài sản của mọi người và nhất là phải để cho tất cả mọi người ở Việt Nam tự do lựa chọn vùng mình muốn sống.”

Lúc đầu, Việt Cộng cho di cư khá dễ dàng. Người Công Giáo ý thức rằng không thể có tự do tôn giáo dưới chế độ cộng sản nên đa số quyết tâm ra đi. Về sau, Việt Cộng thấy rằng số người bỏ làng mạc di cư vào Nam ngày càng đông, sẽ gây ảnh hưởng không tốt về chính trị và làm cho tiềm năng nhân lực và kinh tế miền Bắc yếu đi nên đã tìm cách ngăn chận.

a) Phong trào di cư bùng nổ: Cùng với sự triệt thoái của quân đội Pháp ra khỏi vùng Nam Trung Châu Bắc Việt, đồng bào thuộc các tỉnh Bùi Chu, Phát Diệm, Ninh Bình, Nam Định và Phủ Lý vội vàng chạy về Hà Nội. Đồng bào ở Thái Bình theo đường bể ra Hải Phòng. Tiếp theo, đồng bào ở các vùng quanh Hà Nội như Hà Đông, Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Yên cũng hốt hoảng chạy về Hà Nội. Phong trào di cư đã bùng nổ 3 ngày trước khi Hiệp Định Genève được ký kết. Ngày 17.7.1954, Pháp phải mở chuyến tàu đầu tiên chở người di cư đến Sài Gòn.

Phong trào di cư ngày càng lan rộng. Những đồng bào ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hòa Bình cũng tìm cách chạy về Hà Nội. Sau đó, đến lượt đồng bào ở ba tỉnh miền Trung là Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh ở Liên Khu IV là vùng bị Việt Cộng chiếm đóng và cai trị từ 1945, cũng tìm cách di cư.

b) Các cuộc đàn áp đẩm máu: Trước phong trào di cư ồ ạt này, nhà quyền Cộng Sản đã tìm cách ngăn chận. Các cuộc đàn áp đẩm máu đã xẩy ra. Sau đây là một vài thí dụ điển hình:

1.- Vụ Ninh Bình: Công an đã bắt 30 linh mục đứng ra hướng dẫn phong trào di cư. Giáo dân đã phản đối rất mạnh, công an phải thả ra. Quảng đường từ Bích Câu đến Bùi Chu đầy nghẹt người. Từ Bùi Chu đến Cựa Gà còn gay cấn hơn. Bọn công an và bộ đội giả dạng dân chúng chạy ra níu kéo lại. Người di cư phải vật lộn với họ từ 5 giờ sáng đến 12 giờ trưa mới đến được Cựa Gà. Tại đây, công an lại phong tỏa các đò ngang không cho qua sông. Họ tập trung đồng bào lại và khuyên không nên đi. Đến 5 giờ chiều, họ đem xe đến mời đồng bào trở về Hậu Hải. Đồng bào không chịu lên xe.

2.- Vụ La Châu: Cuộc ra đi của khoảng 3000 đồng bào ở giáo xứ La Châu, Giao Thủy, còn khó khăn hơn. Việt Cộng cho phá sập cầu Nam Điền nên đồng bào không qua sông được. Đồng bào tìm mọi phương tiện để qua sông, một số nhảy xuống sông bơi qua, nhưng bơi không tới, bị chết đuối. Đa số gia đình có đàn bà và trẻ con, không thể bơi qua sông được nên đành phải quay trở về.

3.- Vụ Trà Lý: Đêm mồng 5 rạng ngày 6.11.1954, một tiểu hạm của Hải Quân Pháp đang tuần tiểu ngoài khơi Trà Lý thì được một thuyền đánh cá đến gần và báo tin cho biết có khoảng 2.000 người đang lâm nguy trên một bãi cát ngoài biển Trà Lý, nếu không cứu kịp, họ sẽ bị chìm xuống biển. Tiểu hạm này liền báo cho các tàu La Capricieuse, LMN-9052, LCT-9065 xin đến tiếp cứu. Đến 8 giờ sáng ngày 6.11.1954, Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến cũng đã được thông báo về vụ này. Đô Đốc Jozzan liền ra lệnh cho các tàu ở Hải Phòng và Đà Nẵng phải đến Trà Lý cứu những người đang bị nạn.

Theo một sĩ quan của Tàu La Capricieuse kể lại, sáng ngày 6.11.1954, Tàu 151-L9035 vào cứu đầu tiên, với được 900 người đưa về Hải Phòng. Tàu LSM-9052 và LCT-9065 cho xuồng máy vào cứu tiếp. Đến 1 giờ sáng ngày 7.11.1954, đã có 1.445 người nữa được vớt đưa lên tàu LCT-9065.

Một số người, nhất là đàn bà và trẻ con, khi vội vàng chen chúc nhau leo lên xuồng mày đã bị rơi xuống biển. Các thủy thủ đã ném phao theo cho họ, nhưng họ không biết bơi nên không bám vào được, đã bị chìm luôn.

4.- Vụ Lưu Mỹ: Ngày 18.12.1954, 189 gia đình thuộc thôn Lưu Mỹ, xã Trù Sơn, huyện An Sơn, tỉnh Ngệ An, đã đến trụ sở xã nộp đơn xin di cư. Việt Cộng coi đây là một tổ chức phản động nên tìm bắt những người mà họ nghi đã xách động hay lãnh đạo dân chúng, đó là các ông Phạm Văn Như, Lê Hữu Bằng, Nguyễn Văn Hương, Đinh Thế Xuyên và Nguyễn Văn Cung. Ông Phan Văn Như trốn về được đã báo cho mọi người biết. Dân chúng liền kéo nhau đến trụ sở xã yêu cầu thả những người bị bắt, nhưng họ không thả.

Biết trước thế nào cũng bị khủng bố, dân Lưu Mỹ đã tổ chức những toán tự vệ để canh phòng. Đêm 7.1.1955, công an đến bắt một số người đem về thẩm vấn rồi đến sáng 8.1.1955 thả ra. Sau đó, Việt Cộng đưa bộ đội tới bao vây thôn Lưu Mỹ. Một cuộc xô xát đã xẩy ra vào lúc 4 giờ sáng ngày 13.1.1955. Có 11 người bị chết và nhiều người bị thương. Nhiều người đã bị bắt dẫn đi.

5.- Vụ Ba Làng: Ngày 8.1.1955, tại Ba Làng, huyện Gia Tỉnh, tỉnh Thanh Hòa, có khoảng 20.000 người đã tập trung tại trụ sở xã yêu cầu được cho đi di cư đúng như điều 14b của Hiệp Định Genève đã quy định. Việt Cộng đã huy động cả một Trung Đoàn đến dẹp. Một cuộc xô xát đã xẩy ra. Bộ đội nổ súng bắn, có 4 người bị chết và 6 người bị thương. Sau đó, Việt Cộng lập tòa án nhân dân ở làng bên, đem những người tổ chức và kháng cự ra xét xử. Kết quả 2 người bị tuyên án khổ sai chung thân, 4 người bị án 20 năm và 22 người bị án 12 năm. Khoảng 60 người đã bị bắt đưa đi mất tích.

6.- Vụ Mậu Lâm: Theo những người trốn đi di cư kể lại, vào tháng 2 năm 1955 đã xẩy ra một cuộc xô xát đẩm máu giữa những người đòi đi di cư với bộ đội Việt Cộng tại xã Mậu Lâm, Phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Khoảng 2000 dân đã rầm rộ kéo nhau lên đường đi di cư. Việt Cộng liền cho 2 đại đội thuộc Sư Đoàn 304 ra chận lại. Một cuộc xô xát đã xẩy ra. Có 5 bộ đội bị thương. Bộ đội liền xã súng bắn, có 11 người dân bị chết, nhiều người bị thương và hơn 200 người bị bắt.

7.- Vụ Cửa Lò: Biết rằng theo Hiệp Định Genèvè, người dân có quyền tự do di cư trong hạn 300 ngày, nhiều người dân Cửa Lò, Nghệ An, đã tìm cách ra đi bằng đường bộ hay đường biển, nhưng không ai thoát được. Tất cả hoặc bị bắt lại, hoặc bị chết vì kiệt sức ở trong rừng hay ngoài biển. Cuối cùng, họ đã lập được kế để chạy thoát. Đêm 1.1.1956, bổng nhiên lửa cháy dữ dội đầu làng. Trong khi công an và bộ đội đang lo chửa cháy, dân làng vội vàng xuống thuyền ra khơi, bọn công an không hay biết gì. Đoàn thuyền đi đến trưa hôm sau thì thấy có tàu chiến Pháp xuất hiện ở ngoài khơi. Họ cột một cái áo trắng lên cây sào và vẩy. Tàu chiến Pháp biết có người đang kêu cứu, đã cho tàu chạy sát vào các thuyền của họ và vớt tất cả lên tàu. Đến 2 giờ đêm 2.1.1954, tàu cập bến Hải Phòng. Mọi người đều sung sướng reo hò, nhưng không ai quên được một em bé 12 tuổi tình nguyện ở lại đốt làng để cầm chân bọn công an và bộ đội, không biết số phận em sau đó ra sao.

Tóm lại, tại các xứ Công Giáo, vì việc ra đi có lãnh đạo, có kế hoạch và có tổ chức, nên số thoát được nhiều hơn. Nhưng nhìn chung, đa số đều phải ở lại. Một thí dụ cụ thể: Mặc dầu bị kiểm soát rất chặt chẽ, ở xã Xuân Liên có ba thôn, tại thôn Hạ có 95 gia đình đã thoát đi toàn vẹn, 28 gia đình bị dang dở. Tại thôn Lạc Thủy, có 124 gia đình trốn thoát được. Tại thôn Liên Thượng, hơn 30 gia đình đã đi được.

Theo một tài liệu mà nhân viên an ninh lúc đó bắt được, Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam (sau này đổi thành Đảng Cộng Sản Việt Nam) ước lượng rằng nếu không có biện pháp ngăn chận, sẽ có khoảng 5 triệu người bỏ miền Bắc ra đi. Sự kiện này sẽ đưa đến những kết quả tai hại về cả phương diện chính trị lẫn kinh tế. Vì thế, Trung Ương Đảng đã ra chỉ thị phải tìm cách ngăn chận phong trào di cư lại.

Để giải thích hiện tượng người người bỏ miền Bắc ra đi này, Việt Cộng đã nhiều lần tuyên bố rằng đồng bào miền Bắc đã bị “cưỡng ép” di cư và chính phủ Ngô Đình Diệm cũng như người Mỹ đã tuyên truyền rằng “Đức Mẹ đã vào Nam” để đánh lừa đồng bào công giáo chạy theo. Trò bịp bợm này đã được lặp đi lặp lại trong nhiều bộ phim tuyên truyền, và cũng được dùng để giải thích tình trạng đồng bào bỏ nước ra đi sau 30.4.1975.

Điều đáng buồn cười là hiện nay luận điệu đó lại được bọn bồi bút như Bùi Kha của nhóm Giao Điểm đã lặp lại trong bài “Ngô Đình Diệm, tại sao ông thất bại?” đăng trên GiaoDiem.net, tháng 9 năm 2003 hay “Tiến Sĩ” Lê Cung chép lại một cách trình trọng trong tác phẩm ấu trỉ mang tên “Phong Trào Phật Giáo Miền Nam Việt Nam năm 1963”!

KẾT QUẢ CỦA CUỘC THÁO CHẠY

Ngày 6.8.1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã gởi văn thư yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ cung cấp viện trợ để di chuyển khoảng 100.000 người di cư từ Bắc vào Nam. Trong thư phúc đáp ngày 8.8.1954, chính phủ Hoa Kỳ đồng ý cung cấp cho chính phủ Việt Nam những vật dụng cần thiết để di tản đồng bào muốn di cư ra khỏi vùng sẽ trao lại cho Việt Minh và sẽ hợp tác chặt chẽ với chính phủ Việt Nam để bảo đảm rằng viện trợ của Hoa Kỳ đáp ứng một cách hữu hiệu nhu cầu của chính phủ và dân chúng Việt Nam.

Mỗi ngày, các phi cơ của Pháp có thể di tản khoảng 3.400 người từ Hà Nội và Hải Phòng đến Sài Gòn. Hải Quân Pháp cũng được xử dụng để thực hiện việc di tản. Tuy nhiên, với những phương tiện sẵn có, Pháp không thể vận chuyển hết số người di tản trong thời gian ấn định được. Theo lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam, Hoa Kỳ cũng đã đưa tàu tới phụ giúp. Theo sự ước tình, phải di tản ít nhất 200.000 người ra khỏi Hà Nội và Hải Phòng trước ngày 10.9.1954. Đô Đốc Felix Stump đã ra lệnh cho các tàu đổ bộ thuộc Hạm Đội Tây Thái Bình Dương vào Hải Phòng và các cảng ở miền Trung (Đồng Hới) để di tản từ 80.000 đến 100.000 người.

Để hoàn thành cuộc di tản vĩ đại này:

  • Về hàng không, Pháp đã thực hiện 4.280 chuyến bay, vận chuyển được 213.635 người.
  • Về tàu thủy, Pháp thực hiện 338 chuyến và Mỹ 109 chuyến, vận chuyển được 555.037 người.
  • Những người di tản bằng phương tiện riêng hay vượt qua sông Bến Hản thì không kể.
Xin chân thành cám ơn chính phủ Pháp và chính phủ Hoa Kỳ lúc đó.

Đầu tháng 8 năm 1954, chính phủ đã thành lập Sở Di Cư để lo việc tản cư, tiếp cư và định cư. Nhưng về sau, vì phong trào di cư bùng nổ quá lớn, chính phủ đã phải thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn để phụ trách công việc này. Lúc đầu, ông Ngô Ngọc Đối được cử làm Tổng Ủy Trưởng. Sau đó, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và ông Ngô Ngọc Đối đã thuyết phục Đức Giám Mục Phạm Ngọc Chi đứng ra thành lập “Ủy Ban Hổ Trợ Di Cư” để yểm trợ Phủ Tổng Ủy Du Cư và Tỵ Nạn về tinh thần lẫn vật chất. Trong vài trò này, Đức Giám Mục Phạm Ngọc Chi đã đi vận động các tổ chức quốc tế yểm trợ phong trào di cư của Việt Nam.

Kết quả: Đã có 860.206 người di cư được đưa vào Nam, chia ra như sau:

  • Thiên Chúa Giáo: 677.389 người (Công Giáo: 676.348 người, Tin Lành: 1.041 người)
  • Phật Giáo: 182.817 người
Sau cuộc di cư năm 1954, số giáo dân còn lại ở miền Bắc khoảng 750.000 người với 254 linh mục và 7 Giám Mục, chia làm 10 Giáo Phận. Ngoài ra, Đức Khâm Sứ Tòa Thánh Dooley cũng đã ở lại với Giáo Hội miền Bắc.

Các trại định cư đã được lập từ Quảng Trị đến Cà Mau. Có tất cả 315 trại định cư dành cho 508.999 người, chia ra như sau:

  • Nam phần: 206 trại với 393.354 người.
  • Trung phần: 59 trại với 61.094 người.
  • Cao nguyên: 50 trại với 54.551 người.
NHỮNG TÊN ĐIẾC KHÔNG SỢ SÚNG

Sau khi Hiệp Định Genève được ký kết, tỉnh Quảng Bình được trao cho Việt Cộng. Quân đội, công chức và dân chúng khắp nơi trong tỉnh tìm mọi phương tiện để rời khỏi Quảng Bình. Hai phương tiện được dùng để di cư đồng bào một cách nhanh chóng là tàu thủy và máy bay.

Lúc đó tôi mới 15 tuổi, nhưng đã cùng một số anh em tham gia vào toán tiếp cư do linh mục Georges Neyroud, tuyên úy Quân Đội Pháp thành lập. Ngày 1.8.1954, linh mục cho biết linh mục phải vào gấp Đồng Hà và Đà Nẵng để lo cho đồng bào mới vào, ông cần mấy người biết tiếng Pháp ở lại tiếp tục đón tiếp các đồng bào ở xa tới và cấp giấy cho họ đi.

Gia đình chúng tôi đã vào Đà Nẵng hết rồi, nhưng tôi và một số anh em vẫn còn ở lại lo công việc tiếp cư. Khi nghe linh mục Georges Neyroud hỏi như trên, tôi, anh Nguyễn Kim Thuyên và anh Lê Trung Tha xin tình nguyện ở lại. Thấy chúng tôi còn quá nhỏ, ông hơi do dự, nhưng không còn ai khác, mọi người đã lo đi càng sớm càng tốt, nên ông đành chấp nhận cho chúng tôi ở lại và giới thiệu một Trung Úy người Pháp đến làm việc chung với chúng tôi. Ông ném lại cho chúng tôi hai tạ gạo và một thùng lựu đạn OF. Đó là lương thực của chúng tôi. Mỗi ngày chúng tôi đem một trái lựu đạn OF ném xuống sông rồi lặn xuống bắt cá đem lên luộc ăn với cơm. Sông Nhật Lệ quá nhiều cá nên có khi chúng tôi ăn cá thay cơm.

Công việc của chúng tôi cũng không có gì khó khăn. Chúng tôi tiếp những người trốn được từ vùng quê hay từ Nghệ An và Hà Tĩnh vào, lấy lý lịch của họ ghi vào một tấm thẻ màu đỏ, bắt họ lăn hai ngón tay cái vào thẻ, rồi chuyển cho Trung Úy người Pháp để anh này dẫn họ đến một phòng tiếp cư đợi lên tàu vào Đà Nẵng. Cứ theo lời khai của những người trốn được từ bên kia sông Gianh vào, nếu có sự can thiệp của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, sẽ có hàng chục ngàn người ở Hà Tĩnh xin ra đi. Nhưng chúng tôi chẳng biết làm gì để giúp đỡ họ.

Trong khi chúng tôi lo tiếp những người từ xa đến thì trên đường phố của thành phố Đồng Hới, Việt Cộng tổ chức biểu tình “hoan hô Cách Mạng” liên tiếp từ ngày này qua ngày khác với thái độ hung hăng, nhưng chúng tôi chẳng ai lo sợ gì cả!

Sáng 8.8.1954, Trung Úy ngưới Pháp đến báo tin cho chúng tôi biết phải rời thành phố chiều hôm nay và phải đi bằng đường bộ vượt qua sông Bến Hải, vì không còn phương tiện tàu thủy hay máy bay nữa. Con đường từ Đồng Hới đến Bến Hải dài 71 cây số. Cách đây một năm, ba chúng tôi đã dám vượt qua các bãi mìn, đi bộ từ Bến Hải đến Đống Hới, nên khi được bảo phải đi bằng đường bộ, chúng tôi không có chút lo ngại nào. Đúng là điếc không sợ súng!

Chiều hôm đó, khi chúng tôi qua khỏi phà Quản Hàu, cách thành phố Đồng Hới khoảng 3 cây số, quay nhìn lại thì thành phố đang cháy!

Tôi nhớ lại, khi tôi trao tấm thẻ đỏ di cư cho người anh họ của tôi để lên đường vào Đằ Nẵng, anh ấy đã cúi đầu xuống và thở dài: “Đi như thế này rồi cũng mất nữa thôi!”

Lời tiên đoán đó đã đúng 20 năm sau!


linalol wrote on May 17, '11
Vậy thì, như một số người có nói ông Ngô Đình Diệm đã đối xữ bạc đãi với dồng bào di cư như thế nào?

gioheomay wrote on May 17, '11
Trên chuyến tàu nào đó lúc này chắc có chị Gió đỏ hỏn đang cười đó Ròm ....:))

linalol wrote on May 17, '11
gioheomay said
Trên chuyến tàu nào đó lúc này chắc có chị Gió đỏ hỏn đang cười đó Ròm ....:)) 
Nhà Gió có bị bạc đãi không vậy?

conguyendk wrote on May 17, '11
Đọc hết những ghi chép mới cảm nhận được hết nỗi kinh hoàng !

minhtom wrote on May 17, '11, edited on May 17, '11
THANKS FOR THIS VIETNAM HISTORY POST &
"Looking Back 1954-1955 exodus" LINKS
TOM PREMO - NGUYÊN MINH TÂM - TT

huynhtran wrote on May 17, '11
Ngày đó ba mẹ chị nói ngồi tàu há mồm vào Nam. Năm 54, lúc ấy Chị mới mấy tháng tuổi thôi đó Ròm, chắc bò quanh cái tàu mà kg nhớ ra nữa..

nam64 wrote on May 18, '11
@ All : Ròm có thấy thêm một số hình ảnh về di cư 54 ,để từ từ rảnh Rỏm ôm tiếp về đây .

nam64 wrote on May 18, '11
huynhtran said
Ngày đó ba mẹ chị nói ngồi tàu há mồm vào Nam. Năm 54, lúc ấy Chị mới mấy tháng tuổi thôi đó Ròm, chắc bò quanh cái tàu mà kg nhớ ra nữa.. 
Lúc đó chị có gặp và hállo chị Gió hông vậy híhíhí

Em đi lùng xem những hình ảnh trên tàu coi có gặp chị hay không nhe hihi

nam64 wrote on May 18, '11
gioheomay said
Trên chuyến tàu nào đó lúc này chắc có chị Gió đỏ hỏn đang cười đó Ròm ....:)) 
Nhớ hồi đó chị cười dể sương ghê vậy đó híhíhíhíhí

nam64 wrote on May 18, '11
linalol said
Vậy thì, như một số người có nói ông Ngô Đình Diệm đã đối xữ bạc đãi với dồng bào di cư như thế nào? 
Từ từ em sẽ tìm thêm hình ảnh về đề tài này .

Một lần được cứu giúp dù nhiều hay ít suốt đời không quên .

linalol wrote on May 18, '11, edited on May 18, '11
Cho chị dẫn link nha. ba hình đầu tiên thấy ba dấu hỏi Ròm à.

haiquamuckinh wrote on May 18, '11
Trốn vô Nam cũng không thoát ngày 30/4

nam64 wrote on May 18, '11
linalol said
Cho chị dẫn link nha. ba hình đầu tiên thấy ba dấu hỏi Ròm à. 
OK .

Em vẩn nhìn thấy hình được mà ,

nam64 wrote on May 18, '11
Trốn vô Nam cũng không thoát ngày 30/4 
Trốn qua tới Đức rồi mà tụi nó cũng đeo theo sát đít đây nè .

petercuongkt wrote on May 18, '11
Tài liệu rất quý dành cho mọi người VN tìm TỰ DO!

nam64 wrote on May 18, '11
Thêm hình ảnh về "Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955 " (Còn tiếp)
http://nam64.multiply.com/journal/item/3394/3394

haiquamuckinh wrote on May 18, '11
nam64 said
Trốn qua tới Đức rồi mà tụi nó cũng đeo theo sát đít đây nè . 
Hèn gì mình đọc ở đâu đó cái truy nã: Đít anh ấy có mụn nhọt ở bên trái, đốm lác đồng tiền bên phải đang sừng vẩy lên... qua bên Đức mới thấy....

htp29 wrote on May 19, '11
TAI LIEU THAT QUY
THANKS BAN

hongdwc wrote on May 19, '11, edited on May 19, '11
Về máu và nước mắt của dân di cư trước khi vượt vĩ tuyến 17, xin tìm đọc sách của Bác Sĩ Hải Quân Đại Úy Dooley "Deliver Us from Evil". Tác giả Minh Võ chỉ dịch được 1 chương, đăng trong "Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc", search 2 tác phẩm này bằng Google.

ntqt wrote on May 19, '11

Thay Lời Tựa

Từ ngày sang định cư tại Mỹ, chúng tôi đã được
đọc nhiều tác giả Việt cũng như Mỹ viết về Tổng
Thống Ngô Đình Diệm. Phần đông đánh giá ông
là một người yêu nước. Nhưng cũng có nhiều người
bảo ông không có tài năng gì đặc biệt, chỉ là một ông
quan giỏi về quản trị, không phải là một chính trị gia
lỗi lạc. Có một số khác thậm chí coi ông là tay sai của
Pháp thời thực dân. Đến năm 1954 thì được Mỹ và
Vatican “bồng lên đặt vào ghế thủ tướng”. Ông tồn tại
được 9 năm là nhờ có bàn tay Mỹ nâng đỡ. Ông bị giết
là vì mất lòng dân, nhất là vì ông là người Công Giáo
đã nghe lệnh Vatican đàn áp Phật Giáo “chiếm đến
80-90 phần trăm dân số Việt Nam”. Hơn nữa ông đã
tính bắt tay với Cộng Sản miền Bắc, “bán đứng miền
Nam cho Cộng Sản”.

Những luận điệu ấy phần nhiều đọc được trong
sách của những nhà văn Mỹ bị ảnh hưởng của mấy
nhà báo trẻ thường trú tại Sài Gòn thời ông Diệm,
như David Halberstam, Neil Sheehan, Malcolm
Browne... Về phía Việt Nam thì có những tác phẩm hồi
ký chiến tranh của những tướng tá, hay chính khách
thuộc một vài đảng phái có tham gia hay dính líu đến
các cuộc đảo chính 11-11-1960 và nhất là 1-11-1963.
Cũng có một số sách viết bởi nhóm tranh đấu Phật
Giáo trước 1975, nhất là nhóm Giao Điểm do ông
Trần Chung Ngọc cầm đầu.


Thay lời tựa v
Đọc những tác phẩm đó, thì thấy ông Ngô Đình
Diệm quá tệ, và tội lỗi của ông và gia đình ông quá
nhiều.
Nhưng may là chúng tôi cũng tò mò đi tìm thêm
nhiều nguồn tin khác, thì thấy những nhận định khác
hẳn.
Năm 1998 chúng tôi đã soạn cuốn Ngô Đình Diệm
Lời Khen Tiếng Chê để trình bày với độc giả cả hai bức
chân dung của ông Diệm căn cứ vào những lời khen
và tiếng chê. Hai bức chân dung ấy chỉ là phác thảo
mấy nét sơ sài.

Đến nay, sau đúng 10 năm, sau một thời gian
nghiên cứu, tham khảo thêm nhiều hơn nữa thì thấy
càng ngày những sách báo và tài liệu về ông Diệm
càng nhiều và những nhận định về ông càng ngày
càng có chiều thay đổi. Cuối cùng được thấy một chân
dung Ngô Đình Diệm hoàn toàn trái ngược.
Vì thế lần này chúng tôi sẽ tổng hợp tất cả những
nhận định đó vào trong phần đầu của tập sách này để
nói sơ lược về con người, cuộc đời và hoạt động chính
trị của ông. Vì cuộc đời một nhân vật lịch sử gắn bó
chặt với các biến cố lịch sử, nên không thể nào không
thuật lại và bình luận về các biến cố ấy. Nhưng như
vậy e rằng phần cốt lõi của tiểu sử sẽ quá nặng nề
hoặc loãng ra. Cho nên xin bạn đọc theo dõi những
chi tiết các biến cố nơi các chú thích. Hơn một trăm
chú thích này cũng sẽ cung cấp những bằng chứng
trên giấy trắng mực đen về những điều chúng tôi trình
bày. Có thể là qua đó bạn đọc cũng sẽ thấy bản tóm
lược tiểu sử đỡ buồn tẻ, khô khan.
vi Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc
Chúng tôi hy vọng rằng những lời chân thực, mộc
mạc nhưng “nói có sách, mách có chứng”1 chứa đựng
trong tập sách này sẽ cho độc giả một bức chân dung
gần với sự thực hơn của ông Ngô Đình Diệm. Để cho
người ghét bớt ghét ông, và người yêu cũng có dịp tìm
hiểu tại sao ông đã bị hại hay thất bại.

Chúng tôi cũng ôm một hoài bão là những trang
sách viết trong lúc ở tuổi bát tuần, sẽ làm cho các
Phật tử từng có định kiến rằng ông Diệm Công Giáo
kỳ thị và đàn áp Phật Giáo sẽ có dịp hiểu ông hơn, để
giải tỏa những hiểu lầm và oán thù có hại cho sự
đoàn kết giữa người cùng chung một Tổ Quốc.
Trong phần II cuốn sách, chúng tôi sẽ trình bày
kỹ hơn về một điểm gây nhiều tranh cãi và thắc mắc
liên quan đến đường lối và hành động chiến tranh ý
thức hệ đặc biệt của anh em ông Diệm. Đó là những
toan tính hiệp thương với miền Bắc Cộng Sản.
Phần III gồm những vấn đề linh tinh liên quan
đến Tổng Thống Diệm.

Và Phần IV là lược tóm 2 cuốn sách liên quan đến
Đệ Nhất Cộng Hòa.
Trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chúng tôi chỉ là
một sĩ quan cấp úy, giữ một chức vụ __________nhỏ nhất trong
cấp bậc hành chánh là chủ sự phòng, chưa bao giờ
được gặp cấp tổng giám đốc chứ đừng nói đến các cấp
cao hơn, nhất là Tổng Thống hay ông Ngô Đình Nhu.
Hơn nữa trong khi “biến cố Phật Giáo” xảy ra đưa đến
cuộc đảo chính đẫm máu, thì chúng tôi đang tu
1 Phần lớn những chứng từ quan trọng liên quán đến từng vấn đề
then chốt đều được chúng tôi lấy từ chính những nguồn tin của
phía chống đối ông Diệm. Chẳng hạn như Trần Văn Đôn,
Nguyễn Cao Kỳ, Hồ Sỹ Khuê hay Stanley Karnow, Neil
Sheehan...

Thay lời tựa vii
nghiệp tại ngoại quốc, đến tháng Tư năm sau mới hồi
hương. Vì vậy chúng tôi không có được cái lợi thế làm
nhân chứng trong một biến cố quan trọng được trình
bày ở đây. Nhưng trong khi biên soạn tập tài liệu này
chúng tôi cũng có dịp được gặp một số nhân chứng
hiếm hoi còn sống, nhất là được đọc những tác phẩm
của họ.

Chúng tôi không được đặc ân gì của chế độ. Cũng
không lập được thành tích gì đáng kể. Suốt trong thời
gian 9 năm chỉ được thăng một cấp, mặc dù khi ra
trường còn thời quốc trưởng Bảo Đại, đã được giữ ở
lại làm huấn luyện viên của trường lúc ấy còn giảng
dạy bằng tiếng Pháp và do một thiếu tá Pháp chỉ huy.
Những gì chúng tôi làm được thời Đệ Nhất Cộng
Hòa duy nhất chỉ có một cuốn sách viết về sách lược
cộng sản, chứ không phải về thành tích hay công
trạng của chế độ.

Vì vậy xin bạn đọc hãy tin rằng chúng tôi viết
cuốn sách này với tinh thần khách quan, chứ không
phải để đền ơn, hay ca tụng một tổng thống quá cố.
Mục đích của tập sách là kéo độc giả nhìn về một số
sự kiện lịch sử khách quan mà phần đông tác giả đi
trước đã quên hay cố tình bỏ qua. Nếu có gì sai sót thì
đó là do khả năng có hạn. Và xin được thông cảm và
bổ khuyết.
Minh Võ
Nam Cali, ngày 7-7-2008


viii
Mục Lục
Thay Lời Tựa iv
Mục Lục viii
PHẦN I
1 Sơ lược tiểu sử Tổng Thống Ngô Đình Diệm 10
PHẦN II
2 Cành đào Xuân Quí Mão 131
3 Tết Con Heo nhớ Xuân Con Mèo 163
4 Một số thắc mắc về toan tính hiệp thương 200
PHẦN III
5 Từ vinh quang đến tử nạn 217
6 Cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và
vấn đề chính nghĩa dân tộc 242
7 Ba giờ nghe một nhân chứng 251
8 Mạn đàm với ông Cao Xuân Vỹ 259
9 Di cư, một kỷ niệm đắng cay sau trở nên ngọt ngào 277
10 Nước mắt dập tắt lửa hận thù 286
11 Công Tử Hà Đông bị hiểu lầm 297
PHẦN IV
12 Chiến thắng bỏ lỡ 305
13 Xin cứu chúng tôi khỏi sự dữ 358
PHỤ LỤC

Một lá thư dài của Tổng Thống Ngô Đình Diệm 394
Lời cuối sách 427
Thư Mục 406

Ngày nay, đã hơn nửa thế kỷ sau, giữa lúc Hà Nội
đang cần chứng tỏ với thế giới là họ tôn trọng nhân quyền
Xin cứu chúng tôi khỏi sự dữ 361
hòng được sớm vào WTO mà ta còn thấy công an đàn áp,
tra tấn, đánh đập các đạo hữu Hòa Hảo, Tin Lành, điển
hình là vụ bạo hành mục sư Chính tại Cao Nguyên. Còn
vào thời điểm đó, Bắc Việt còn bị bưng bít hoàn toàn với
thế giới bên ngoài, và liền sau chiến thắng Điện Biên, họ
được toàn quyền làm chủ một nửa nước. Vì vậy những
chuyện kể trong tác phẩm của Dooley rất đáng tin.
Ngay ở phần đầu sách tác giả đã cho biết về chuyến
tầu đầu tiên đến Sài Gòn:
“Thuyền trưởng Cox chính thức báo cáo: Tầu chở
2061 người. Có hai người chết trên tầu và 2 cuộc thủy
táng. Bác sĩ Dooley chủ trì 4 ca đỡ đẻ trên tầu. Tất cả mẹ
tròn con vuông. Một cháu bé đã mang tên chiếc tầu với
mình suốt đời, do cha mẹ cháu nghĩ ra một cách đầy mơ
mộng: TRỊNH VĂN AKA MONTAGUE 98 NGHIÊM.”
Về sinh hoạt của Trại Chùa, ông viết:
“Trại tỵ nạn đầu tiên của chúng tôi trở thành trung tâm
thu hút nhiều khách quý: Đô đốc Sabin và thiếu tướng (hải
quân) Walter Winn, người thay đô đốc Sabin trong chức
vụ tư lệnh lực lượng đặc trách; tướng J. Lawton Collins,
nguyên tham mưu trưởng Lục Quân Hoa Kỳ, đại diện cá
nhân Tổng Thống để giải quyết các khó khăn rắc rối tại
Việt Nam; tướng O’Daniel, tục gọi “Mike, người sắt
thép”, trưởng toán cố vấn và viện trợ quân sự ở Sài Gòn,
và nhiều nhân viên chữa lửa khác thường tới thăm cái trại
bùn lầy nước đọng này.
“Vị thống đốc người Việt của vùng đất nhỏ bé của
chúng tôi là một nhà ái quốc tên là Nguyễn Luật. Ông đã
thụ huấn ở Pháp, và đã chọn trở về quê hương VN. Trước
cuộc chiến ông từng là chủ bút một tờ nhât báo ở Hà Nội.
Trong chiến tranh ông đã chiến đấu với người Pháp với
cương vị một sĩ quan. Gần như tuần nào ông cũng tới trại
nói chuyện với dân và nâng cao tinh thần của họ.
362 Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc
“Thị trưởng thành phố Hải Phòng là Mai Văn Bột
năng tới trại. Ông là con người giản dị và tốt lành, người
Mỹ nào biết ông đều yêu mến.

“Những kẻ đến viếng trại mà không được yêu mến
chính là những tên tay sai của Việt Minh CS. Ngày nào
chúng cũng tới. Thấy chúng dân tỵ nạn liền chỉ tay nghi
ngờ. Họ bảo chúng tôi: “Trong trại Chùa, lều số 5B có một
kẻ nói rằng chúng tôi đến đây là một lầm lỗi to. Nó bảo
chúng tôi phải quay về ngay lập tức để chiến đấu cho
những nhà ái quốc chân chính, tức Việt Minh. Kẻ đó lạ
lắm.”
“Cảnh sát cứ vài ngày lại bắt gặp những kẻ lạ đó ở
trong trại.
“...
“Sau vài tuần sau ngày dựng lều, Trại Chùa đã bắt đầu
sinh hoạt đều đặn và trở thành một cộng đồng riêng.
Chúng tôi đã có danh xưng riêng; có một cơ quan quản trị
riêng, chúng tôi có bệnh viện riêng, với những y tá quân y
và cả những cô y tá răng đen nhai trầu nữa. Và chúng tôi
cũng có những cửa hàng bán hàng xén. Khẩu phần ăn
hàng ngày là 600 gram gạo, cân đo tỉ mỉ, vài con cá và khi
có thể thì cũng có một món đặc biệt thêm vào.
“Tôi quên không nói đến nhà thờ... Mỗi buổi sáng
sớm đều có lễ cho trên 10 ngàn người dự. Tôi chắc chắn
Chúa nghe lời họ cầu nguyện. Họ không xin Chúa ban ơn
gì. Họ không hỏi Chúa sẽ đưa con cái họ tới đâu. Nhưng
họ cám ơn Chúa qua những lời kinh và tiếng hát mạnh mẽ.
Cám ơn Chúa đã cho họ tự do.”
Đầu chương IX tác giả cho biết:
“Tại lều vải bệnh xá trong trại Chùa, hàng ngày tôi
phải chữa từ 300 đến 400 bệnh nhân trong tình trạng khẩn
cấp với nhu cầu tuyệt đối. Không chữa được thì để họ chết
dần, hay trả họ về nguyên quán với Việt Minh sao?”
Xin cứu chúng tôi khỏi sự dữ 363
Về một ca bệnh đậu mùa. Dooley nói với ông đại úy
bác sĩ “thủ trưởng”:
“Thưa bác sĩ, chúng ta phải cố làm gì cho những bệnh
nhân này chứ? Luật là luật. Nhưng chúng ta không thể trả
người đàn bà này và đứa trẻ lại cho cộng sản, chỉ vì lẽ đứa
trẻ bị bệnh đậu mùa. Chúng ta phải trị khỏi bệnh cho đứa
bé để gia đình nó được lên tầu.”
Chương X nói về uy lực của tuyên truyền CS như
sau:

“Cộng sản không ngừng nhồi nhét vào đầu người dân
những chuyện về người Pháp và người Mỹ thường bắt cóc
người dân Bắc Kỳ. Cộng sản bịa ra những chuyện như thế
hết giờ này qua giờ khác, hết tháng này qua tháng khác.
Tất cả thanh niên nam nữ đều phải bắt buộc dự những lớp
học tập cải tạo mỗi buổi sáng. Nơi đây những viên chính
ủy nhắc đi nhắc lại những chuyện về sự độc ác dã man của
người Mỹ.
“Đối với dân quê chất phác, chuyện nghe ra hợp lý, có
thể tin. Người Mỹ được biết như là giống người bị ám ảnh
bởi vệ sinh sạch sẽ quá đáng. Vì vậy có lẽ họ sẽ chặt tay
những kẻ nào thổ mửa trên tầu của họ, v.v...”
“... Nhiều dân ty nạn không ngừng sợ sệt người Mỹ
làm hại mình, nhất là khi vào khám bệnh hay chữa bệnh
trong lều bệnh xá. Đến nỗi tác giả phải đưa ra trị hay khám
bên ngoài lều cho mọi người trông thấy mà quan sát và
thấy rằng ông không làm hại ai. Trái lại những mũi thuốc
trụ sinh hay kháng sinh chích vào rất công hiệu và bệnh
mau lành, như vậy mới làm cho dân hết sợ. Nhưng lại có
những cái sợ khác như khi tầu há mồm đến đón, dân
không dám lên, vì sợ bị nuốt mất. Đến nỗi phải có một
linh mục leo lên trước rồi vác loa giải thích kêu gọi dân
mới dám leo lên theo...”
364 Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc
Một mục trong chương trình văn nghệ của đài Hà Nội
mang tên là “Đây là một người Mỹ” mà tác giả nghe được
có đoạn như sau:
“Đầu nó là một cái lô-cốt. Râu nó là giây kẽm gai.
Mắt nó là hai quả bom. Răng nó là những viên đạn đumđum.
Cánh tay nó là 2 khẩu súng và mũi nó thở ra lửa. Nó
hút máu trẻ con như ma cà rồng. Trán nó là ổ súng đại bác
và thân thể nó là sân bay. Ngón tay nó là những lưỡi lê, và
bàn chân nó là 2 xe tăng. Nó nhe răng đe dọa, nhưng trong
cái mồm xấu xí của nó nó chỉ có thể nhai sắt vụn, bởi vì
nó bị lực lượng oai hùng của nhân dân ta chống đối mãnh
liệt. Như thế đủ biết bọn Mỹ chỉ là tên khổng lồ bằng
giấy”.

“Tuyên truyền của Việt Minh bắt đầu ảnh hưởng cả
đến (ICC) ủy hội Quốc Tế Giám Sát Đình Chiến gồm
người Ba Lan, Ấn Độ và Gia Nã Đại, do hiệp ước Genève
quy định. Người của ủy hội hay tới trại của chúng tôi để
điều tra về những điều CS cáo buộc rằng người Mỹ làm
điều nọ, điều kia có hại cho dân tỵ nạn. Có lần họ điều tra
về cáo buộc người Mỹ bỏ thuốc độc vào nước uống. Lần
khác về chuyện bịa đặt là chúng tôi xịt vào người dân thứ
bột thuốc làm họ không thể có con. Trong khi thực ra là
chúng tôi có xịt vào họ thứ thuốc sát trùng DDT để làm
cho những con chấy con rận không sinh sôi nảy nở được
đó mà.
“Và đây là sự bịa đặt của Thông Tấn Xã Hà Nội phát
thanh ngày 27-11-1954:
“Lực lượng Liên Hiệp Pháp và tay sai đế quốc Mỹ đã
bằng mọi cách đi lùng bắt và bắt cóc xung quanh Hải
Phòng, ép buộc dân phải di tản vào Nam. Lúc 9 giờ tối
qua, chúng động viên cảnh sát đến bao vây phố Du Hang
(?) và bắt đem đi 50 thanh niên. Chúng tuyên bố một cách
vô liêm sỉ rằng những thanh niên này phải đăng ký vào
Xin cứu chúng tôi khỏi sự dữ 365
lính, bằng không sẽ phải đưa vào làm lao công ở các đồn
điền cao su miền Nam.
“Trong 5 ngày bọn tay sai đế quốc đã bắt giữ 117 tài
xế xích lô và đưa vào Nam. Theo thống kê chưa đầy đủ,
551 người ở Hải Phòng đã bị bắt trong 21 cuộc ruồng bố
trong một tháng.
“Tại tỉnh Kiến An cũng có 3 cuộc bố ráp trong cùng
thời gian và 99 người đã bị bắt giữ, trong khi tại Quảng
Yên nhiều người khác cũng là nạn nhân của những hành
động tương tự...”

Và sau đây là kết quả của những luận điệu tuyên
truyền của CS đối với dân tỵ nạn:
“Trong toán di dân đầu tiên tới trại có mấy trẻ con.
Khi chúng đến bên Ed, anh này bèn xịt thuốc DDT vào
chúng. Người mẹ liền dùng đòn gánh tấn công Ed túi bụi.
Vì bà ta đã từng nghe nói người Mỹ độc ác, dã man. Tôi
bật cười rũ rượi, đến không còn nhớ chuyện gì xảy ra sau
đó. Nhưng tôi nghĩ lại, sau khi bị một hay hai đòn, Ed đã
khóa tay được người đàn bà, và ông trưởng trại và thuộc
hạ đã ngăn được trận ẩu đả. Rồi thì Ed quay lại xịt thuốc
DDT vào các y tá của anh ta để chứng tỏ cho người đàn bà
thấy rõ thứ bột trắng này không làm hại ai.
“Chính tôi cũng nhiều lần bị đánh, và không phải chỉ
bị đánh nhẹ đâu.
“Một ngày kia một bà bồng đến cho tôi chữa một đứa
bé sơ sinh mình mẩy đầy ung nhọt. Penicilline là thứ thuốc
thần chống những ung nhọt và mụn ghẻ. Chuyện đó là
thường. Tôi chích cho đứa hài nhi một mũi vào mông và
bảo ngày mai mang cháu lại.
“Nhưng chỉ vài giờ sau tôi nghe có tiếng la hét chửi
rủa và thấy người đàn bà giơ cao đứa con cho mọi người
thấy. Rõ ràng đây là bằng chứng tôi là một con quái vật
Mỹ. Đứa trẻ đã bị phản ứng của thuốc, coi thật dữ tợn tuy
vô hại. Người đàn bà điên cuồng không chịu nghe bất cứ
366 Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc
lời giải thích nào. Bà ta đưa con cho người đứng bên rồi
giật lấy cái gậy to tướng và gọi cả tá “cảm tình viên” tới.
Khi Baker, cuối cùng giải cứu được tôi thì tôi đã bị gẫy
mấy cái xương sườn, mắt bầm tím và nhiều vết bầm ở
những nơi khác trong thân thể.

“Hôm sau, toàn trại đứng xem tôi đơn thương độc mã,
tay không vũ khí dẫn thân tới lều của người đàn bà. Như
tôi đã tiên liệu, những vết tổ ong trên thân thể đứa bé đã
biến mất, và những ung nhọt kinh tởm hôm trước đã lành.
Người đàn bà òa khóc quì xuống ôm chân tôi để xin tha
thứ. Bà ta ở lại trại liền mấy tuần để cùng với một số
người khác phục dịch công tác y tế, lúc nào cũng nôn nóng
muốn khoe đưa con sạch sẽ lành lặn của mình. Ảnh hưởng
tốt đối với dân di cư là phần thưởng cho tôi bù lại những
cái xương sườn bị gẫy...”
Câu chuyện của làng Cửa Lò (chương XI)
Hải quân Pháp luôn luôn trong tình trạng báo động
theo dõi các thuyền bè chở người tỵ nạn trong vùng tự do.
Họ có tầu tuần tiễu và thủy phi cơ liên tục tìm kiếm những
thuyền bè nào xem ra có vẻ muốn tìm nơi trú ẩn.
Trong những tháng đầu người tỵ nạn thường đi thuyền
trôi theo các nhánh sông vào cảng Hải Phòng. Nhưng khi
sự tuần tiễu kiểm soát của Việt Minh thắt chặt lại thì điều
đó không thể thực hiện được nữa. Thế là những người can
đảm hơn dùng những thuyền bè nhỏ bé không thích hợp
cho những chuyên đi biển để liều giăng buồn nhắm tới Hải
Phòng.

Thuyền trưởng Gerald Cauvin của hải quân Pháp đặc
trách công tác đặc biệt này, và thông báo cho chúng tôi
biết hoạt động của ông. Điều này giúp chúng tôi rất nhiều
vì nó cho tôi biết trước những gì đang chờ chúng tôi.
Xin cứu chúng tôi khỏi sự dữ 367
Một buổi sáng sớm, Cauvin sai một người tới trại của
chúng tôi để chở tôi ra bến tầu của hải quân Pháp. Ông
bảo mới nhận một tin vô tuyến cho biết có 14 chiếc thuyền
lớn ở ngoài khơi vịnh Hạ Long.
Ông đã phái một chiếc tầu Pháp, chiêc LSM, tới đón
đoàn thuyền đó để đưa vào Hải Phòng. Tôi báo động cho
trại biết phải sẵn sàng đón nhận khoảng 500 người rất ốm
yếu (thực ra là trên 1100 người). Rồi đại tá Cauvin và tôi
lên tầu LSM đi 4 giờ trên sông tới vịnh. Chiếc thủy phi cơ
tìm ra đoàn người tỵ nạn đã trở về Hải Phòng.
Chúng tôi tới vịnh khoảng trưa. Hoàn toàn yên lặng.
Đoàn thuyền nối đuôi nhau, chiếc nọ sau chiếc kia, đã
vào vịnh rồi. Nhiều chiếc tụm vào nhau, hay đầu chiếc này
được cột chặt vào đuôi chiếc kia. Khi tới gần, chúng tôi
dùng ống nhòm quan sát. Ánh nắng rực rỡ trên mặt nước
xanh trong, phong cảnh như trong truyện thần tiên. Nhưng
những gì chúng tôi thấy chẳng có gì đẹp như truyện.
Chen chúc như cá trong hộp, trên 14 chiếc thuyền, bè
mỏng manh là hơn một ngàn dân tỵ nạn. Họ đã vượt 200
dặm biển Nam Hải dậy sóng một cách không thể nào tin
được. Họ đã dùng những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé (nối
đuôi nhau, có nhiều chiếc cột lại với nhau, đầu chiếc này
gắn vào đuôi chiếc kia), bất chấp mọi hiểm nguy, và đã
thực hiện điều hầu như bất khả thi. Mặc dầu lúc ấy trời
nắng ấm, mà tất cả đều ướt sũng và lạnh cóng. Biển cả đã
làm họ kiệt quệ vì say sóng. Họ đã thổ mửa tới mật xanh
mật vàng. Ngay từ xa bạn cũng có thể thấy họ bị lạnh buốt
đến xương tủy. Có những người đi đi lại lại để giúp đỡ
nhau chống chọi với đau ốm. Nhưng nhìn vào toàn cảnh
thì đó là một khối bất động, nằm la liệt trên sàn thuyền.
Dường như đoàn người đó đang chuyển động trong
một cuốn phim quay chậm. Luôn luôn bị ướt sũng vì nước
mặn suốt cả ngày, da họ bị khô và ánh nắng gắt đã làm nó
nứt ra. Luôn luôn bị ngâm trong nước mặn, bàn chân và
368 Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc
mắt cá chân của họ sưng húp lên. Chúng tôi có thể cảm
thấy nổi khốn khổ của họ ngay cả trước khi đụng vào
người họ.

Khi chiếc LSM của chúng tôi tới gần đủ để họ nhận ra
lá cờ Pháp ở mũi tầu thì một điều ấm lòng xảy ra. Biết
rằng chúng tôi là bạn chứ không phải là thù, họ bèn kéo
một tấm vải ướt sũng mà họ đã giấu kỹ nhiều năm lên đỉnh
cột buồm cao nhất. Đó lá cờ của giáo hội Công Giáo.
Khi chúng tôi tới sát bên họ, những bàn tay người
Pháp giơ ra và thò xuống để giúp đưa họ lên tầu. Hầu hết
họ đều lên tầu của chúng tôi. Chỉ một số người còn tương
đối khỏe mạnh ở lại trên vài chiếc thuyền bé nhỏ của họ đã
được cột sát vào hông tầu LSM để cùng vào Hải Phòng.
Chúng tôi cho họ dùng trà, nước và bánh ngọt Pháp.
Tuy không đủ, nhưng cũng giúp phần nào. Chiếc LSM
nhỏ bé với vài chục thủy thủ không mang theo nhiều đồ
ăn. Phải chi tôi biết nghĩ trước là nên mang theo một trăm
bì cơm thì hay biết mấy.

Cauvin và tôi thấy mấy người lớn tuổi có vẻ là những
thủ lãnh trong đoàn người này. Tôi đưa họ vào phòng và
hỏi: “Các ông từ đâu tới? Cuộc sống trong làng các ông ra
sao? Tại sao các ông tới đây? Các ông là ai?”
Họ kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của họ với
giọng buồn rầu thận trọng, dè dặt, như thể họ đã kể chuyện
đó cả ngàn lần rồi. Bằng một thứ tiếng Pháp khá chuẩn,
nhưng giọng nói đều đều buồn chán, họ cho chúng tôi biết
về cuộc đời họ. Hai chúng tôi chăm chú nghe trong 3 giờ
đồng hồ.
Câu chuyện chẳng có gì đặc biệt mới. Chúng tôi đã
từng nghe những người trốn thoát khác nói rồi. Nhưng ở
đây có một sự cay đắng làm cho người nghe thương cảm
khác thường. Cuộc vượt thoát của họ được hoạch định và
thực hiện mà hoàn toàn không có một sự trợ giúp nào từ
Xin cứu chúng tôi khỏi sự dữ 369
bên ngoài. Duy nhất chỉ có hai lợi khí cổ điển: niềm tin và
hy vọng.
Dù rằng giờ này (1956, MV) đây tôi ở cách xa hàng
ngàn dặm, và đã xa cách hàng ngàn giờ, tôi vẫn còn nhớ
một cách sống động từng lời nói của họ. Mấy ông già với
bộ mặt nhăn nhó, phờ phạc ngồi đối diện hai chúng tôi,
uống trà đậm, rồi lưỡng lự nói nhỏ nhẹ:
“Làng chúng tôi tên là làng Cửa Lò. Khoảng 300 cây
số về phía nam, ở bờ biển. Những năm trước đây là một
ngôi làng hạnh phúc. Đất bằng phẳng chia làm vô số mảnh
ruộng lúa xanh tươi. Trong mùa mưa gió, những đám mây
trôi nhanh trên bầu trời u ám. Đến mùa nắng ấm mặt trời
sáng rực trên bầu trời xanh dương. Các ông có thể thấy
dân làng chúng tôi làm việc suốt ngày ở ngoài đồng, tát
nước vào ruộng, hay cầy bừa trên những bãi bùn lầy, theo
sau những con trâu giẫm bước kêu ì ọp.
“Ai không làm ruộng thì đánh cá. Những chiếc thuyền
đưa tới đây là của dân đánh cá đó. Những chiếc thuyền
này khá vững chãi, có 2 cột buồm và những cánh buồm
màu. Nhưng chúng được đóng thô sơ mà không nhắm chịu
đựng được sóng gió của biển khơi.
“Kẻ thù bắt đầu cai trị chúng tôi từ 1951. Họ áp dụng
luật lệ mới. Họ viết lịch sử mới. Và áp đặt một lối sống
mới, lối sống cộng sản. Nhưng cộng sản lại nói đó là chủ
nghĩa ái quốc Việt Minh. Bây giờ có hòa bình nhưng là
thứ hòa bình buồn tẻ, không vững chắc. Ngay cả chúng tôi
là những viên chức chế độ cũ, thường được coi như có
hiểu biết củng thấy thật khó hiểu.
“Ngày nay bất cứ cái gì liên quan đến người Pháp
trước kia đều bị hoen ố. Trước mắt những sử gia mới tất
cả những gì người da trắng làm đều là xấu xa. Cả những
điều tốt lành họ đã làm đều là xấu tất, vì đã được làm vì
lòng ích kỷ bẩn thỉu.

370 Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc
“Quả thật người Pháp đã đưa vào Việt Nam khoa học
về y tế, và mở những chiến dịch chống bệnh truyền nhiễm.
Nhưng VC bảo Pháp đã làm điều ấy để có được những
phu khoẻ mạnh và những tên nô lệ tráng kiện.
“Lối sống mới của chúng tôi được coi như là ảo
tưởng. Nhưng chẳng bao lâu sẽ thấy, người ta ngụ ý rằng
thế hệ hiện nay luôn luôn phải bị hy sinh một cách không
thương xót cho thế hệ sau được hạnh phúc.
“Cuộc cải cách ruộng đất mới đây chỉ tạo ra nạn đói.
Mọi người trong chúng tôi chẳng có gì bỏ bụng. Cái chủ
nghĩa duy vật của CS đã thành con yêu tinh mút hết màu
mỡ đất đai của chúng tôi. Thoạt tiên chủ nghĩa yêu nước
của Việt Minh đạt được dường như có vẻ phù hợp với
công lý đích thực. Nhưng rồi sau đó trở thành một thứ bố
láo thực thụ. Khoa xã hội học mới đã dẫn tới sự tố giác lẫn
nhau trong gia đình, tự phê tự kiểm và sự nghi kỵ. Dân
làng chúng tôi đã bị hy sinh một cách tàn nhẫn cho ý
tưởng lợi ích kinh tế. Chưa từng bao giờ có sự độc ác có
hệ thống và tổ chức như vậy.
“Tất cả chúng tôi cùng có một ý nghĩ – bỏ trốn – thế
là chuẩn bị mấy tuần lễ. Ngày nào chúng tôi cũng giấu
những nắm cơm nhỏ. Không nói cho ai biết về ý định trốn
thoát. Làm gì cũng phải giấu giấu giếm giếm. Viên chủ
tịch xã trước kia là người phe chúng tôi, nhưng nay ông ta
là cán bộ Việt Minh, và đã trở nên độc ác vì niềm tin mới
của ông ta. Ở đâu ông ta cũng có chân tay nằm sẵn, tại khu
chợ, tại mỗi căn lều.
“Chúng tôi làm kế hoạch, nhưng không dám họp
nhau. Theo luật lệ mới, không được hội họp trên 4 người.
Chúng tôi chuyền khẩu cho nhau khi cúi lưng trên đồng
ruộng, hay khi dân chài chúng tôi đổ cá lên bờ, hay khi
đám phụ nữ đi chợ.
“Cuối cùng các kế hoạch và lời cầu nguyện đạt đến
đỉnh cao. Đêm đó đã đến. Trời không trăng, tối như mực.
Xin cứu chúng tôi khỏi sự dữ 371
Biển lặng. Từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng, chúng tôi chuồn
lén xuống thuyền từng người một, hay từng 2 người.
Trong khi đó thì một anh chàng tên là Mai Văn Thinh, la
hét và hát cao giọng làm náo động ở cuối làng. Sự ồn ào
kéo chú ý của cảnh sát và cán bộ và binh lính VC. Họ kéo
nhau đến xem chuyện gì xảy ra. Trong khi đó thì chúng tôi
tiếp tục lên thuyền.

“Những chiếc thuyền này được đóng để chỉ chở được
25 người thôi. Đêm ấy mỗi chiếc chở gần 100. Lẳng lặng
như đêm khuya thinh lặng, chúng tôi nhẹ nhàng chèo
thuyền ra khơi của biển Đông.
“Vâng, chúng tôi đã thành công trong việc rời làng.
Nhưng chúng tôi không hoàn toàn vui, vì cứ mải nghĩ đến
anh chàng Mai. Chẳng bao lâu bọn họ sẽ biết anh ta đóng
vai trò gì trong cuộc vượt thoát của chúng tôi. Lúc ấy số
phận anh ta sẽ ra sao?
“Cha mẹ Mai đều bị giết trong chiến tranh, rồi năm
1953, người em độc nhất của anh ta tên Châm đã bị thiêu
sống, vì là thủ lãnh phong trào thanh niên Công Giáo.
Chiều ngày 16-1-1953 Châm bị trói vào một gốc cây, bị
đánh dã man bằng gậy tre già. Rồi cái thân sũng máu của
anh bị tưới xăng, châm lửa đốt cháy cho đến chết.
“Vừa dùng chèo, vừa dùng buồm, chúng tôi ra khơi
thật nhanh hết sức mình có thể được, nóng lòng vượt hết 3
dặm giới hạn để vào hải phận quốc tế, là an toàn. Khoảng
hửng sáng thì chúng tôi không còn thấy bờ nữa, và cảm
thấy đã tương đối an toàn. Nghĩa là chúng tôi đã thoát
được một mối nguy. Bây giờ phải chiến đấu với biển cả,
một mối nguy khác.
“Chúng tôi muốn đi về hướng Bắc. Nhưng không có
địa bàn, và cũng chẳng có bao nhiêu kiến thức về hải
hành. Tuy nhiên chúng tôi cố để mặt trời ở bên phải và
hướng về Hải Phòng. Chúng tôi được biết tại đây người
372 Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc
Pháp và người Mỹ sẽ sẵn sàng vớt chúng tôi. Rồi họ sẽ
đưa chúng tôi vào Sài Gòn.

“Chuyến đi của chúng tôi dài 5 ngày 5 đêm. Chúng tôi
không có lửa vì củi trên thuyền quá ướt. Chúng tôi ăn cơm
đẫm nước. Trà thì pha nước mặn và càng làm cho chúng
tôi bệnh hơn. Chúng tôi có quá ít nước uống, đúng ra là
chẳng có nước. Mỗi đợt sóng lớn lại làm sàn thuyền ngập
tràn nước biển. Thật là cực khổ. Sáng sớm hôm nay chúng
tôi tới được chốn lạ lùng này, và đoán mình đã vào được
vịnh Hạ Long. Khi thấy chiếc thủy phi cơ của các ông, thì
chúng tôi hoàn toàn chắc chắn. Và bây giờ chúng tôi đã
được tự do...”
Mấy người thủ lãnh dân làng kể chuyện này một cách
bình tĩnh, nhẹ nhàng. Vừa sợ hãi vừa thán phục, chúng tôi
chăm chú nghe câu chuyện về sự dũng cảm và niềm hy
vọng cao cả của họ.
Rồi bỗng tiếng hát vang từ bên ngoài sân tầu vọng
vào. Chúng tôi bước ra để nghe những lời thánh ca diu
dàng của đám đông tỵ nạn. Chúng tôi nghe tiếng được
tiếng mất. Mấy thủ lãnh ngân nga theo bài hát rồi dịch ra
tiếng Pháp cho chúng tôi.
Dân làng đang hát lời cảm tạ Thượng Đế đã cứu giúp
họ trong cơn nguy nan trong cuộc đời của họ:
“Chúa ôi, chúng con kính yêu vẻ đẹp huy hoàng của
nhà Chúa, và nơi mà sự vinh quang Chúa hằng ngự trị.
Xin cho chúng con được sống những ngày bình an với
Chúa.”

Còn tiếp...
http://hongdwc.multiply.com/links/item/4

nam64 wrote on May 20, '11
hongdwc said
sách của Bác Sĩ Hải Quân Đại Úy Dooley "Deliver Us from Evil". Tác giả Minh Võ chỉ dịch được 1 chương, đăng trong "Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc", 

nam64 wrote on May 20, '11
hongdwc said
"Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc" 
Giáo sư Ngô Đức Diễm Giới thiệu tác phẩm NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC của Minh Võ

Thứ bảy 21 tháng 3, 2009, tại trung tâm Vivo thành phố San Jose ra mắt tác phẩm Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc do Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân tái bản lần thứ nhất tại bắc Cali.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Hình ảnh xưa gom về từ mọi nơi trên mạng Net ,không phải của Ròm ,không thuộc về Ròm .Các bạn cứ tự nhiên lấy về để xem ,để cho bạn của các bạn xem hay làm tư liệu ..... sao cũng được hihi .Phần nhiều hình xưa từ trước 1975 và một ít hình xưa thuộc về cận sau 75 . Về nguồn hình đem về thì có cái có có cái không đó là do khi có khi không và "quên" cái việc "Nguồn Hình" hehehe Thông cảm nha .

Bấm vào dưới avata "Tham gia trang web này " để có thể biết bài mới của Ròm

Dùng những mã code này để có thể cài vào còm ở nhà Ròm

Link ==> <a href="URL">TEXT</a>

Hình ảnh ==> [img]URL[/img]

Youtube clip ==> [youtube]URL[/youtube]

Nhạc của Tui ==> [nct]URL[/nct]

Thư Mục bài post hình xưa của FB Nam Ròm

Đây là  thư mục cho trang nhà của Ròm bên FB ,với mục lục những gì Ròm đã post các bạn có thể dể dàng tìm thấy được những gì mình muốn xem .====> Bấm vào đây <====  ******* _____________________________________

Những bài đăng trong tầng lầu này